Sẹo Rỗ Lâu Năm Có Đầy Được 100% Không? Sự Thật Về Tỷ Lệ Phục Hồi

Ghi chú phạm vi. Đề mục này là một trong bốn đề mục của tổng quan hệ thống về điều trị sẹo rỗ, được biên soạn từ 37 ấn phẩm trong thư mục “TKTK sẹo”; riêng đề mục này sử dụng 33 tài liệu, được đánh số lại theo thứ tự xuất hiện trong văn bản và liệt kê ở phần Tài liệu tham khảo cuối file (định dạng Vancouver). Cần lưu ý ngay từ đầu một giới hạn phương pháp luận quan trọng: đây là tổng quan hệ thống dựa trên một bộ tài liệu đã được người sử dụng chọn sẵn, không phải trên một chiến lược tìm kiếm cơ sở dữ liệu độc lập. Do đó, khả năng bỏ sót nghiên cứu và sai lệch chọn lọc tài liệu là có thật và được nhắc lại trong phần hạn chế của từng đề mục. Ngoài ra, một tài liệu trong bộ dữ liệu (bài viết về thang điểm Goodman & Baron định lượng của một phòng khám thẩm mỹ tại Singapore) là nguồn web thương mại không qua bình duyệt; tài liệu này chỉ được dùng để tham khảo cách diễn giải thang điểm, không được dùng làm bằng chứng hiệu quả điều trị.

Chữ viết tắt dùng chung: FCO2/AFCO2 = laser CO2 vi điểm (fractional) bóc tách; MNRF/FMRF/NIMFRF = vi kim tần số vô tuyến (microneedling radiofrequency; NIMFRF = vi kim không cách điện); PLLA = poly‑L‑lactic acid; PDLLA = poly‑D,L‑lactic acid; HA = hyaluronic acid; CaHA = calcium hydroxylapatite; PCL = polycaprolactone; PRP = huyết tương giàu tiểu cầu; PIH = tăng sắc tố sau viêm; CROSS = chemical reconstruction of skin scars; TCA = trichloroacetic acid; GB = Goodman & Baron; ECCA = Échelle d’Évaluation Clinique des Cicatrices d’Acné; VAS = thang điểm đau nhìn; FST = phân loại da Fitzpatrick; RoB 2 = công cụ Cochrane đánh giá nguy cơ sai lệch cho RCT; NOS = thang Newcastle–Ottawa; AMSTAR‑2 = công cụ đánh giá chất lượng tổng quan hệ thống; GRADE = hệ thống phân mức độ tin cậy bằng chứng; SORT = Strength of Recommendation Taxonomy.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Bối cảnh và gánh nặng

Sẹo là di chứng phổ biến của mụn trứng cá. Trong một cohort 417 bệnh nhân mụn tại Ả Rập Xê Út, chỉ 18,7% không có di chứng; 22,8% có sẹo đơn thuần, 22,3% có PIH đơn thuần và 36,2% có cả hai, tức là khoảng 59% có sẹo [1]. Các khảo sát khác ghi nhận di chứng ở 45% phụ nữ trưởng thành bị mụn tại Pháp và 52,6% thanh thiếu niên Hồng Kông [2], 29–40% bệnh nhân mụn Ấn Độ [3], và sẹo ở 11–14% sau khi mụn khỏi [4]. Bệnh nhân thường đến khám vì sẹo rất muộn: trong nghiên cứu của Agrawal và Khunger, thời gian mang sẹo trước khi đi điều trị trung bình là 62,5 tháng ở nam và 55,8 tháng ở nữ, và 92% nói rằng họ sẽ điều trị sớm hơn nếu biết mụn để lại sẹo vĩnh viễn [5]. Vì vậy, câu hỏi “sẹo lâu năm có đầy được 100% không?” là câu hỏi bệnh nhân đặt ra hằng ngày, và câu trả lời quyết định kỳ vọng, sự hài lòng và cả quyết định tài chính của họ.

1.2. Khoảng trống kiến thức

Các con số “cải thiện 70–90%” xuất hiện phổ biến trong truyền thông thường bị hiểu nhầm là “sẹo biến mất 70–90%”. Trong y văn, “hiệu quả” được đo bằng nhiều thang khác nhau: số bậc giảm theo thang Goodman & Baron định tính, phần trăm giảm điểm định lượng, tỷ lệ bệnh nhân đạt mức “tốt” hay “rất tốt” theo tứ phân vị, hoặc phần trăm giảm thể tích đo bằng 3D. Mỗi thang cho một con số khác nhau cho cùng một kết quả lâm sàng. Bên cạnh đó, dữ liệu về ảnh hưởng của thời gian tồn tại sẹo lên đáp ứng điều trị rất ít, và ít nghiên cứu phân tích riêng nhóm sẹo lâu năm.

1.3. Lý do cần tổng quan và câu hỏi PICO

Cần một tổng hợp trung thực về mức cải thiện thực tế được đo lường trong các nghiên cứu, kèm giải thích ý nghĩa của từng thang đo, để bác sĩ tư vấn đúng và bệnh nhân quyết định đúng. Dân số (P): người lớn có sẹo mụn teo, đặc biệt sẹo tồn tại nhiều năm. Can thiệp (I): mọi phương pháp điều trị sẹo teo (laser, RF, lăn kim, subcision, filler, biostimulator, CROSS, phối hợp). So sánh (C): tình trạng trước điều trị hoặc giữa các phương pháp. Kết cục (O): mức cải thiện đo được (số bậc GB, % giảm điểm, tỷ lệ đạt trên 75% hoặc 51–75%, % giảm thể tích), tỷ lệ đạt xóa sẹo hoàn toàn, ảnh hưởng của thời gian tồn tại sẹo và loại sẹo, độ bền và tái phát.

1.4. Mục tiêu

  • Mô tả các thang phân độ và cách chúng định nghĩa “cải thiện”; (2) tổng hợp mức cải thiện thực tế trong các nghiên cứu can thiệp và tỷ lệ đạt cải thiện hoàn toàn; (3) đánh giá ảnh hưởng của thời gian tồn tại sẹo, loại sẹo và mức độ sẹo; (4) đưa ra thông điệp tư vấn dựa trên bằng chứng.

II. Nội dung chi tiết về khả năng phục hồi sẹo rỗ

2.1. Phương pháp

Tiêu chí lựa chọn. Được đưa vào: bài xây dựng hoặc thẩm định thang phân độ sẹo; nghiên cứu dịch tễ và yếu tố nguy cơ; mọi nghiên cứu can thiệp trong bộ dữ liệu có báo cáo mức cải thiện định lượng hoặc phân bố bệnh nhân theo mức đáp ứng; tổng quan có nhận định về kỳ vọng thực tế, giới hạn hiệu quả, sẹo lâu năm và loại sẹo khó. Loại trừ: tài liệu thuần túy về kỹ thuật không có dữ liệu kết cục.

Chiến lược tìm kiếm. Sàng lọc toàn văn 37 tài liệu; 33 tài liệu có nội dung liên quan. Từ khóa tham chiếu: “acne scar grading”, “Goodman Baron”, “ECCA”, “quartile improvement”, “scar duration”, “old scars”, “complete resolution”, “realistic expectations”, “recurrence”.

Trích xuất và đánh giá chất lượng. Với mỗi nghiên cứu can thiệp, trích: thang đo, mức cải thiện trung bình, phân bố % bệnh nhân theo mức, có bệnh nhân nào đạt xóa sẹo hoàn toàn không, thời gian theo dõi, tái phát, phân tích theo thời gian sẹo hoặc loại sẹo. Đánh giá chất lượng như các đề mục trước. Định nghĩa mức đáp ứng theo tứ phân vị được chuẩn hóa: Q1 dưới 25%, Q2 25–50%, Q3 51–75%, Q4 trên 75%; với thang GB định tính, giảm 2 bậc được gọi là “excellent”, giảm 1 bậc là “good”, không giảm là “poor” theo quy ước của Majid được Abdelwahab trích dẫn [6].

2.2. Kết quả tìm kiếm

33 tài liệu được đưa vào: 2 bài xây dựng thang phân độ [2, 7] và 1 nguồn web tham khảo [8]; 2 nghiên cứu dịch tễ và hình thái [1, 5]; 15 nghiên cứu can thiệp hoặc tổng hợp can thiệp có dữ liệu định lượng [4, 6, 9–21]; 12 tổng quan, chương sách và đồng thuận [3, 22–32]; 1 bài bình luận [33].

2.2.1. Các thang phân độ và ý nghĩa của “cải thiện”

Thang Goodman & Baron định tính chia sẹo thành bốn độ dựa trên hình thái và khả năng nhận thấy ở khoảng cách giao tiếp xã hội trên 50 cm: độ 1 (dát, chỉ thay đổi màu), độ 2 (nhẹ, có thể không rõ ở trên 50 cm và che được bằng trang điểm), độ 3 (trung bình, rõ ở trên 50 cm, không che dễ nhưng còn phẳng ra khi kéo căng da) và độ 4 (nặng, rõ, không che được và không phẳng ra khi kéo căng, gồm boxcar sâu, ice pick, cầu và đường hầm, teo lan tỏa) [7]. Điều quan trọng cho câu hỏi của đề mục này là: “giảm 2 bậc” – kết quả được gọi là “excellent” trong hầu hết nghiên cứu – có nghĩa là bệnh nhân từ độ 4 (không che được) về độ 2 (che được bằng trang điểm, có thể không rõ ở trên 50 cm), chứ không phải hết sẹo; và ngay cả độ 1 vẫn là còn dát thay đổi màu. Chính Goodman và Baron cũng nhận định rằng sẹo độ 4 “không cải thiện tốt với các kỹ thuật tái tạo bề mặt hay làm đầy mô tiêu chuẩn” và dát giảm sắc tố “có thể không cải thiện theo thời gian” [7].

Thang Goodman & Baron định lượng gán 1, 2 hoặc 3 điểm cho từng loại sẹo nhẹ, vừa, nặng, 2 điểm cho sẩn tăng sản và 6 điểm cho sẹo lồi, nhân với hệ số theo số lượng (1–10 sẹo ×1, 11–20 ×2, trên 20 ×3), cho tổng điểm 0–84 [3, 8, 16]; Chandrashekar quy ước giảm 0–5 điểm là tối thiểu, 5–10 trung bình, 10–15 tốt và trên 15 rất tốt [6]. Goodman nhận xét thang này “chính xác nhưng khá rườm rà cho sử dụng hằng ngày” [7]. Thang ECCA của Dreno và cộng sự tính điểm cho 6 loại tổn thương (teo hình V, U, M, elastolysis nông, sẹo phì đại viêm dưới 2 năm, sẹo lồi trên 2 năm) với hệ số 15–50 và điểm bán định lượng 0–3, tổng điểm 0–540; thang được thẩm định trên 7 bác sĩ chấm 10 bệnh nhân với không có hiệu ứng người chấm (p = 0,18) và hiệu ứng bệnh nhân rõ (p < 0,0001), nhưng không cung cấp hệ số tương quan nội lớp và ý nghĩa lâm sàng của các khoảng điểm chưa được xác định [2, 22]. Về hình thái, Agrawal và Khunger ghi nhận trên 100 bệnh nhân Ấn Độ: ice pick ở 94%, rolling 86%, boxcar 54%, sẹo lồi 10%, PIH 54%, và 37% ở mức nặng theo GB [5].

2.2.2. Yếu tố nguy cơ và tiên lượng

Alamri và cộng sự (phân tích đa biến) tìm thấy mụn dạng sẩn làm tăng nguy cơ sẹo kèm PIH (OR 5,65; 95% CI 1,83–17,5), adapalene gel bảo vệ khỏi sẹo (OR 0,13; 0,02–0,67), hemoglobin cao hơn giảm nguy cơ (OR 0,78), thời gian mụn dài hơn (3,8 so với 2,4 năm; p = 0,027) và mụn tái phát (58,7% so với 27,9%; p = 0,003) gắn với sẹo [1]. Agrawal và Khunger ghi nhận 52% bệnh nhân trì hoãn điều trị mụn ít nhất 1 năm; trong 18 người chưa từng điều trị có 12 sẹo nặng; mụn nặng dẫn tới 32/54 sẹo nặng trong khi mụn nhẹ không ai sẹo nặng; và sẹo nặng ở 9,09% người dùng isotretinoin so với 37,78% người dùng kháng sinh uống (p < 0,05) [5]. Dreno và cộng sự nêu các yếu tố nguy cơ là thời gian và mức độ mụn, điều trị không phù hợp và cào nặn [2]; Holland (được trích trong [22, 23]) cho thấy người dễ sẹo có phản ứng viêm ban đầu yếu hơn, chậm hơn nhưng kéo dài hơn.

2.3. Tổng hợp bằng chứng

2.3.1. Không nghiên cứu nào ghi nhận xóa sẹo hoàn toàn

Trong toàn bộ 15 nghiên cứu can thiệp và 12 tổng quan được rà soát, không có nghiên cứu nào báo cáo bệnh nhân đạt cải thiện 100% hay “hết sẹo”. Các tổng quan phát biểu rõ ràng: Connolly và cộng sự viết “khỏi hoàn toàn sẹo mụn là ngoại lệ chứ không phải quy luật” [23]; Tretti Clementoni và Azzopardi nhấn mạnh “các phương pháp hiện tại có thể cải thiện nhưng không thể xóa hoàn toàn sẹo teo” và bệnh nhân “thường hoặc mất hết hy vọng, hoặc đến với kỳ vọng phi thực tế” [24]; Gupta và cộng sự: “khỏi hoàn toàn là thách thức và hiếm khi đạt được” [25]; Taylor và Koron: “bệnh nhân hiếm khi đạt cải thiện 100%” [20]; Fabbrocini và cộng sự: “sẹo ice pick và rolling không thể biến mất hoàn toàn” [22]; Artzi và cộng sự: “không có phương pháp đơn lẻ nào được chứng minh hiệu quả phổ quát” [17]; Lopez dẫn Fulton rằng điều trị sẹo mụn “có lẽ là thủ thuật thẩm mỹ khó nhất hiện có” và “hầu hết bác sĩ cố gắng đạt cải thiện nhiều nhất có thể” [19]; Zhou và cộng sự nhắc rằng FCO2 dù từng là tiêu chuẩn vàng cũng chỉ có tỷ lệ hiệu quả 51–70% [16]. Ngay cả trong nghiên cứu có kết quả “xuất sắc” nhất, Aalami Harandi và cộng sự mô tả rõ: “sẹo lớn thành sẹo nhỏ hoặc pitted; đáy boxcar gần ngang da nhưng bờ không biến mất” [21]; Lopez nhận xét “sẹo vẫn thấy được ở 50 cm nên không thể coi là giảm 3 bậc” [19].

2.3.2. Mức cải thiện thực tế theo từng nhóm phương pháp

Bảng 3.1. Mức cải thiện đo được trong các nghiên cứu can thiệp của bộ dữ liệu

Nghiên cứu Phương pháp, số buổi n; mức sẹo; tuổi sẹo Mức cải thiện trung bình Tỷ lệ đạt > 75% (Q4) Tỷ lệ đạt 51–75% (Q3) Ai đạt 100%? Theo dõi
Qu 2025 [11] NIMFRF hoặc AFCO2, 1 buổi 30; nặng (ECCA > 110); trung vị 6 năm ECCA giảm ~20% (tháng 1), ~30% (tháng 6) 0% 1/30 Không 6 tháng
Rajput 2021 [12] FCO2 hoặc MNRF, 4 buổi 50; GB 2–4 Giảm điểm GB định lượng 63,4% (CO2), 60,7% (MNRF) 16% / 12% 56% / 48% Không 2 tháng sau buổi 4
Sriram 2024 [13] FCO2 hoặc MNRF, 4 buổi 32; GB 3–4 Giảm 6,4–6,6 điểm; độ 4 → độ 2 ở 83–100% Không báo cáo Không báo cáo Không (độ 1 vẫn là dát) 3 tháng
Agrawal K 2024 [14] FCO2 hoặc lăn kim, 4 buổi 30; GB 4 ở 66,7%; 43% ≥ 10 năm GB 3,53 → 2,37 (−32,9%) với CO2; → 3,20 (−9,3%) với lăn kim Không báo cáo Không báo cáo Không; không ai về độ 1 2 tháng
Zhou 2025 [16] FCO2 1 buổi ± PLLA ×3 60; nhẹ–vừa; 7,8 năm GSS 25–26 → 20 (laser) hoặc 15 (phối hợp) Không báo cáo Không báo cáo Không; 2 BN xấu đi 6 tháng
Kupwiwat 2026 [15] FMRF ± PLLA, 2 buổi 24; vừa–nặng Thể tích Antera −1,67 (PLLA) so với −0,89 29,2% (tự đánh giá) 33–46% Không 6 tháng
Abdelwahab 2023 [6] Subcision đơn / + HA / + FCO2 40; 90% GB 3–4; trung vị 5,5 năm (2–17) Giảm điểm 44,3% / 62,3% / 68,6% 20% / 50% / 70% 35% / 35% / 25% Không; điểm thấp nhất còn 3 6 tháng
Aalami Harandi 2011 [21] Subcision + hút chân không 58; nhẹ–nặng 71,7% (nhóm tuân thủ) so với 43,8% (hút không đủ) ≥ 80%: 28,3% — Không (“bờ không biến mất”) 6 tháng
Pravangsuk 2021 [4] Khí nén nước muối ×3 hoặc subcision kim ×1 18; vừa–nặng; 7 năm Thể tích giảm 11–12%; đường kính giảm 2–3% — — Không 12 tuần
Taylor & Koron 2021 [20] Subcision rộng + TCA 20% + Er:YAG, 1 buổi 56; rolling; FST IV–VI 2,52/4 16% 43% Không (“hiếm khi 100%”) ≥ 1 tháng
Lopez 2024 [19] Lăn kim ≤ 3 + CROSS phenol 1–3 21; 86% GB 3–4 Giảm 1 bậc 61,9%; 2 bậc 38,1% 19% (GAIS) 81% Không Không nêu
Artzi 2019 [17] HA hai mặt phẳng, 2 buổi 12; GB 2–4; 8 năm (1–20) 2,5 ± 0,43/4 (26–50%) 2/12 — Không 6 tháng
Seo 2024 [18] PDLLA microjet, 5 buổi 5 GAIS 2/5 — — Không 22 tuần

Từ bảng trên và từ dữ liệu của các tổng quan, có thể mô tả mức cải thiện điển hình theo phương pháp như sau. Với laser vi điểm CO2 hoặc MNRF 4 buổi, điểm GB định lượng giảm khoảng 60–68%, tương ứng với đa số bệnh nhân giảm 1 bậc và 15–50% giảm 2 bậc; chỉ 12–16% đạt trên 75% theo đánh giá mù [12, 13]; với chỉ 1 buổi ở sẹo nặng, ECCA chỉ giảm 30% và không ai đạt trên 75% [11]. Các tổng quan báo cáo FCO2 cải thiện độ sâu sẹo 43–80% (trung bình 66,8%) [22], tứ phân vị 26–50% [23], tỷ lệ “có đáp ứng” tới 90% [28] và “cải thiện đáng kể ở khoảng 75% quần thể nghiên cứu” với CO2 xung cao [3]; MNRF cần 4–6 buổi và “đa số chỉ cải thiện nhẹ–vừa (25–50%)” theo Gupta [25], hoặc 25–75% sau 3–6 buổi theo Tretti Clementoni [24], dù Chandrashekar báo cáo 80,64% bệnh nhân độ 3–4 giảm 2 bậc [29]. Với lăn kim cơ học đơn thuần, GB chỉ giảm 9,3% trong cùng nghiên cứu mà FCO2 giảm 32,9% [14], hoặc 50–60% “ở mức độ khác nhau” theo Gupta [25]. Với subcision đơn thuần, hiệu quả trong y văn dao động 15–80%, thường nhẹ dưới 30% hoặc khoảng 50% [21]; Alam báo cáo 90% bệnh nhân cải thiện với mức trung bình 51% [25]; subcision cannula 1 buổi giảm điểm 44,3% với 40% “poor” [6]. Với filler và biostimulator, điểm sẹo giảm 20–31%, thể tích giảm 11–50%, PLLA giảm mức độ tối đa 46,4% sau 7 buổi [30]; subcision + HA nâng tỷ lệ cải thiện ≥ 50% lên 94,1% [30, 32]. Với TCA CROSS ở ice pick, cải thiện 50–80% và 66–100% bệnh nhân đạt trên 50% trong 9 nghiên cứu, nhưng tỷ lệ đạt trên 75% dao động từ 0% (Nofal; Leheta) đến 22,6% (Agarwal 70%), trong khi Bhardwaj với TCA 100% báo cáo 80% bệnh nhân đạt trên 70% [31]. Microdermabrasion chỉ làm hài lòng 5–20% bệnh nhân sẹo vừa–nặng và không đáp ứng ở độ 4 [25].

2.3.3. Sẹo lâu năm đáp ứng kém hơn: bằng chứng và cơ chế

Bằng chứng định lượng duy nhất trong bộ dữ liệu là nghiên cứu nửa mặt của Agrawal K và cộng sự: bệnh nhân có sẹo dưới 10 năm cải thiện bậc GB có ý nghĩa ở cả bên FCO2 và bên lăn kim (p < 0,001), trong khi bệnh nhân có sẹo từ 10 năm trở lên “đáp ứng kém hơn tương đối”, với mối liên quan có ý nghĩa giữa đáp ứng và tuổi sẹo (p = 0,002); tác giả giải thích bằng “lão hóa làm mất mô elastin hoạt động, khiến chỗ lõm của sẹo càng rõ”, và trích Deshmukh và Belgaumkar rằng PRP hoặc subcision cũng không cải thiện có ý nghĩa ở sẹo cũ [14]. Tretti Clementoni và Azzopardi khẳng định “sẹo trẻ dễ tái cấu trúc hơn” với khung thời gian lý tưởng có thể sớm tới 4–12 tuần sau tổn thương, dù “sẹo ở mọi tuổi đều có thể cân nhắc tái tạo bề mặt vi điểm” [24]. Gronovich (trích trong [30]) ghi nhận sẹo chấn thương mới điều trị trong 30 ngày đáp ứng tốt hơn. Stratman và He ghi nhận số buổi CROSS tăng theo “mức độ nặng và tính mạn tính” của sẹo [31]. Xiang và cộng sự lưu ý RF và lăn kim “hạn chế với sẹo nặng hoặc xơ hóa sâu” và “một khi sẹo đã hình thành, việc sửa chữa ngày càng khó” [10]. Fabbrocini và cộng sự, khi bàn về sẹo phì đại, nhận định “tuổi và kích thước sẹo là yếu tố quan trọng, sẹo trẻ và nhỏ đáp ứng tốt nhất” [22]. Ngược chiều một phần, Zhang và cộng sự trích một nghiên cứu hồi cứu cho thấy sẹo nhỏ dưới 1,5 mm có thể tự thoái triển trong 12 tuần, gợi ý rằng sẹo lâu năm đã mất khả năng tự phục hồi này [28].

Cần thận trọng khi kết luận: trong 15 nghiên cứu can thiệp, chỉ một nghiên cứu phân tích theo tuổi sẹo với hai nhóm không cân bằng; các nghiên cứu khác có ghi tuổi sẹo trung bình 5,5–8 năm (dao động tới 20 năm) nhưng không phân tích dưới nhóm [4, 6, 11, 16, 17]. Như vậy, sẹo lâu năm vẫn đáp ứng điều trị – ví dụ Abdelwahab với sẹo trung vị 5,5 năm (tới 17 năm) đạt 70% trên 75% với subcision + FCO2 [6] – nhưng mức đáp ứng có xu hướng thấp hơn và cần nhiều buổi hơn.

2.3.4. Loại sẹo và mức độ sẹo quyết định “trần” cải thiện

Loại sẹo là yếu tố tiên lượng mạnh và nhất quán hơn tuổi sẹo. Với FCO2, đáp ứng rolling 42,90% > boxcar 36,18% >> ice pick 3,13% [14]; với FCO2 + PLLA, giảm ASRS rolling 1,31 > boxcar 0,78 > ice pick 0,32 [16]; với Er:glass 1540, boxcar 52,9% > rolling 43,1% > ice pick 25,9% [23]; với MNRF, rolling và boxcar tốt hơn ice pick [13]. Ice pick “gần như kháng cả hai” laser và lăn kim [14], “kháng các lựa chọn tái tạo bề mặt thông thường” [23], “loại đáp ứng kém nhất với laser vi điểm” [26], và “chỉ cải thiện với rất ít phương pháp” [33]; boxcar sâu từ 0,5 mm trở lên cũng kháng tái tạo bề mặt [23]. Ice pick cần TCA CROSS hoặc punch [3, 22, 23, 31]. Mức độ sẹo ban đầu cũng quyết định: sẹo độ 4 “cải thiện kém với tái tạo bề mặt” [25], “sẹo nặng được điều trị kém và không cải thiện nhiều với tái tạo bề mặt, nên thử punch” [26]; Qu và cộng sự giải thích tỷ lệ 0% đạt trên 75% ở nghiên cứu của họ là do sẹo nặng (ECCA trên 110) và chỉ 1 buổi [11]. Ngược lại, có ngoại lệ đáng chú ý từ tổng quan filler: Ebrahim ghi nhận ice pick đáp ứng tốt nhất với HA sau subcision (91%) và Koren ghi nhận ice pick 68% với FCO2 + CaHA [30].

2.3.5. Số buổi, thời gian chờ và độ bền

Các tài liệu đồng thuận rằng “điều trị một lần hiếm khi hiệu quả bằng các chu kỳ lặp lại cách nhau 6–8 tuần” [24] và “số buổi càng nhiều cải thiện càng nhiều” với CROSS [31]. Số buổi thông thường: lăn kim 3–4 buổi cách 4 tuần [3, 22]; MNRF 3–6 buổi [24, 25]; CROSS 3–6 đợt [23, 31]; PLLA nhiều buổi cách 1 tháng [3]. Kết quả đầy đủ cần thời gian: RF tốt nhất 3 tháng sau buổi cuối [3, 23]; lăn kim 8–12 tháng [23, 26]; collagen tiếp tục tái cấu trúc sau 12 tháng và tới 18 tháng với laser bóc tách [23]; subcision không ổn định trước 2 năm [6]. Độ bền: laser bóc tách vi điểm duy trì tới 3 năm [24]; PLLA tới 4 năm [18, 25, 30]; HA giảm hiệu quả sau 3 tháng do thoái giáng [17] và filler tạm thời cần lặp lại [3, 30]; subcision kim tái lõm thường gặp trong 2–3 tuần đầu [21, 32]. Đáng lưu ý, 2/30 bệnh nhân FCO2 đơn trị xấu đi do mụn tái phát [16], nhắc rằng kiểm soát mụn là điều kiện để duy trì kết quả.

2.3.6. Tính không đồng nhất và mức độ tin cậy

Các con số không thể so sánh trực tiếp giữa nghiên cứu vì khác thang đo (ECCA, GB định tính, GB định lượng, tứ phân vị, GAIS, 3D), khác mức sẹo ban đầu, khác số buổi và thời gian theo dõi (từ 2 tháng tới 6 tháng, hiếm khi hơn). Đánh giá phần lớn là chủ quan; đo 3D chỉ có ở hai nghiên cứu [4, 15]. Mức độ tin cậy theo GRADE: cho kết luận “không phương pháp nào xóa hoàn toàn sẹo” là cao về mặt nhất quán (mọi nghiên cứu và tổng quan đồng hướng, không có bằng chứng ngược); cho ước lượng mức cải thiện điển hình theo từng phương pháp là thấp; cho ảnh hưởng của tuổi sẹo là rất thấp (một nghiên cứu, không cân bằng); cho ảnh hưởng của loại sẹo là trung bình (nhất quán qua nhiều nghiên cứu và tổng quan).

III. Kết luận về hiệu quả điều trị sẹo rỗ

3.1. Tóm tắt bằng chứng

Câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi “sẹo rỗ lâu năm có đầy được 100% không?” là không. Không nghiên cứu nào trong bộ dữ liệu ghi nhận bệnh nhân hết sẹo hoàn toàn, và mọi tổng quan đều khẳng định khỏi hoàn toàn là ngoại lệ hoặc không thể đạt được. Mức cải thiện thực tế được đo lường dao động rộng: với phác đồ đơn trị 4 buổi laser hoặc RF, đa số bệnh nhân giảm 1 bậc Goodman & Baron và 12–16% đạt trên 75% theo đánh giá mù; với phác đồ phối hợp subcision cùng filler hoặc laser, 50–70% đạt trên 75% ở 6 tháng; với chỉ 1 buổi trên sẹo nặng, không ai đạt trên 75%. “Trên 75%” trong y văn nghĩa là sẹo còn nhìn thấy nhưng nông và ít rõ hơn nhiều, không phải da phẳng hoàn toàn. Sẹo từ 10 năm trở lên đáp ứng kém hơn có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu duy nhất phân tích yếu tố này, và loại sẹo (ice pick, boxcar sâu, độ 4 không phẳng khi kéo căng) là yếu tố giới hạn “trần” cải thiện mạnh hơn cả tuổi sẹo.

3.2. Ý nghĩa lâm sàng: thông điệp tư vấn

Dưới góc nhìn bác sĩ da liễu, thông điệp trung thực và có bằng chứng cho bệnh nhân là: sẹo lâu năm vẫn điều trị được và có thể cải thiện đáng kể, nhưng mục tiêu hợp lý là “sẹo nông hơn, ít nhìn thấy hơn ở khoảng cách giao tiếp, che được bằng trang điểm” chứ không phải “da phẳng như chưa từng có sẹo”. Mức cải thiện trung bình 50–70% theo thang điểm sau một liệu trình phối hợp 3–6 buổi trong 6–12 tháng là kỳ vọng thực tế với rolling và boxcar nông; ice pick và boxcar sâu cần CROSS hoặc punch và có “trần” thấp hơn; kết quả cuối cùng chỉ nên đánh giá sau 9–12 tháng vì collagen tiếp tục tái cấu trúc; và một số kết quả (filler, subcision kim) sẽ thoái lui nếu không củng cố. Bệnh nhân cần được cho biết trước rằng các con số “cải thiện 70–90%” trong quảng cáo thường là tỷ lệ bệnh nhân “có đáp ứng”, không phải phần trăm sẹo biến mất. Việc điều trị sớm, khi sẹo còn trẻ và trước khi elastin bị mất theo tuổi, cho đáp ứng tốt hơn; và phòng ngừa sẹo bằng điều trị mụn viêm kịp thời (isotretinoin ở mụn nặng, adapalene) vẫn là biện pháp hiệu quả nhất.

3.3. Hạn chế của tổng quan

Chỉ một nghiên cứu phân tích theo tuổi sẹo; theo dõi hầu hết dưới 6 tháng nên không nắm được độ bền thực sự; thang đo không thống nhất khiến không thể ước lượng gộp; nhiều nghiên cứu có nguy cơ sai lệch cao và đánh giá chủ quan; bộ tài liệu không bao gồm các nghiên cứu theo dõi dài hạn hoặc nghiên cứu về sẹo trên 20 năm.

3.4. Hướng nghiên cứu tương lai

Cần chuẩn hóa kết cục (đo thể tích 3D, thang GB định lượng, kết cục do bệnh nhân báo cáo), phân tầng trước theo tuổi sẹo và loại sẹo, theo dõi ít nhất 12–24 tháng, và báo cáo minh bạch tỷ lệ bệnh nhân đạt từng mức tứ phân vị thay vì chỉ điểm trung bình; đồng thời nghiên cứu chuyên biệt về sẹo lâu năm ở người trung niên có mất elastin do lão hóa.

3.5. Khuyến nghị cụ thể

Bác sĩ nên dùng thang Goodman & Baron định tính và định lượng cùng ảnh chuẩn hóa trước điều trị để đặt mục tiêu bằng số bậc hoặc phần trăm điểm cụ thể, ký cam kết kỳ vọng với bệnh nhân, lên kế hoạch liệu trình phối hợp 6–12 tháng theo loại sẹo, và hẹn đánh giá kết quả cuối ở mốc 9–12 tháng thay vì ngay sau buổi cuối.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Alamri A, Alzahrani D, Alharbi G, Jan R, Alsubaie LA, Alghamdi A, et al. The predictive factors of acne scarring and post‑inflammatory hyperpigmentation: a retrospective cohort study. Clin Cosmet Investig Dermatol. 2025;18:143–50. doi:10.2147/CCID.S504281.
  2. Dreno B, Khammari A, Orain N, Noray C, Mérial‑Kieny C, Méry S, et al. ECCA grading scale: an original validated acne scar grading scale for clinical practice in dermatology. Dermatology. 2007;214(1):46–51. doi:10.1159/000096912.
  3. Tahiliani S, Mysore V, Ganjoo A, Udare S, Rajendran SC, Reddy R, et al. Practical aspects of acne scar management: ASAP 2024. Cureus. 2024;16(3):e55897. doi:10.7759/cureus.55897.
  4. Pravangsuk J, Udompataikul M, Cheyasak N, Kamanamool N. Comparison of normal saline injection with pneumatic injector to subcision for the treatment of atrophic acne scars. J Clin Aesthet Dermatol. 2021;14(5):50–5.
  5. Agrawal DA, Khunger N. A morphological study of acne scarring and its relationship between severity and treatment of active acne. J Cutan Aesthet Surg. 2020;13(3):210–6. doi:10.4103/JCAS.JCAS_177_19.
  6. Abdelwahab AA, Omar GAB, Hamdino M. A combined subcision approach with either fractional CO2 laser (10,600 nm) or cross‑linked hyaluronic acid versus subcision alone in atrophic post‑acne scar treatment. Lasers Med Sci. 2023;38(1):20. doi:10.1007/s10103-022-03677-y.
  7. Goodman GJ, Baron JA. Postacne scarring: a qualitative global scarring grading system. Dermatol Surg. 2006;32(12):1458–66. doi:10.1111/j.1524-4725.2006.32354.x.
  8. Sozo Aesthetic Clinic. Goodman and Baron quantitative acne scar grading system [Internet]. Singapore: Sozo Aesthetic Clinic; cập nhật 4/3/2026. Nguồn web thương mại, không bình duyệt; chỉ dùng tham khảo cách diễn giải thang điểm.
  9. Argobi Y, Tobeigei F, Alasiri FI. Fractional CO2 laser versus micro needling radiofrequency for post acne scarring: a meta‑analysis of RCTs. J Cosmet Dermatol. 2026;25:e70765. doi:10.1111/jocd.70765.
  10. Xiang X, Shuai W, Mu Y. Comparative efficacy and safety of fractional CO2 laser and gold microneedling radiofrequency for atrophic acne scars: a systematic review. Skin Res Technol. 2026;32:e70345. doi:10.1111/srt.70345.
  11. Qu L, Sha S, He C, Chen HD, Wu Y. Comparison of non‑insulated microneedle fractional radiofrequency and ablative fractional carbon dioxide laser for the treatment of facial atrophic acne scarring: a pilot randomized split‑face clinical study. Acta Derm Venereol. 2025;105:adv43611. doi:10.2340/actadv.v105.43611.
  12. Rajput CD, Gore SB, Ansari MK, Shah SM. A prospective, nonrandomized, open‑label study, comparing the efficacy, safety, and tolerability of fractional CO2 laser versus fractional microneedling radio frequency in acne scars. J Cutan Aesthet Surg. 2021;14(2):177–83. doi:10.4103/JCAS.JCAS_65_19.
  13. Sriram R, Chandrashekar BS, Madura C, Gowda HH. Comparative study in treatment of acne scars fractional carbon dioxide laser versus micro needling fractional radio frequency – a retrospective study. J Cutan Aesthet Surg. 2024;17(3):214–8. doi:10.25259/jcas_122_23.
  14. Agrawal K, Belgaumkar VA, Chavan RB, Pradhan SN. Evaluating the pros and cons of fractional CO2 laser versus microneedling in atrophic acne scars in the skin of color: a split face study. Indian Dermatol Online J. 2024;15(6):942–8. doi:10.4103/idoj.idoj_96_24.
  15. Kupwiwat R, Techapichetvanich T, Bhorntarakcharoen W, Sittiwanaruk S, Li JB, Manuskiatti W. Transdermal delivery of poly‑L‑lactic acid via fractional microneedle radiofrequency for atrophic acne scars: a split‑face randomized study in Fitzpatrick skin types III to V. Dermatol Ther (Heidelb). 2026;16:1089–97. doi:10.1007/s13555-025-01626-5.
  16. Zhou C, Chen W, Zhang L, Luo X, Zhu L, Zhang E, et al. Poly‑L‑lactic acid combined with CO2 fractional laser for the treatment of acne scars. J Cosmet Dermatol. 2025;24:e70271. doi:10.1111/jocd.70271.
  17. Artzi O, Cohen S, Koren A, Niv R, Friedman O. Dual‑plane hyaluronic acid treatment for atrophic acne scars. J Cosmet Dermatol. 2020;19(1):69–74. doi:10.1111/jocd.12991.
  18. Seo SB, Wan J, Chan LKW, Lee KWA, Kim SB, Yi KH. Poly‑D,L‑lactic acid‑enhanced atrophic scar treatment via transdermal microjet drug delivery in Asians. Skin Res Technol. 2024;30:e13762. doi:10.1111/srt.13762.
  19. Lopez Q. Treatment of acne scars with microneedling and chemical reconstruction of scarred skin therapy (CROSS) using phenol/croton oil combination. J Drugs Dermatol. 2024;23(6):418–22. doi:10.36849/JDD.7657.
  20. Taylor MB, Koron N. Combined treatment of rolling acne scars in ethnic skin using extensive subcision, trichloracetic acid peel, and fractional ablative erbium laser. Dermatol Surg. 2021;47(4):496–9. doi:10.1097/DSS.0000000000002858.
  21. Aalami Harandi S, Balighi K, Lajevardi V, Akbari E. Subcision‑suction method: a new successful combination therapy in treatment of atrophic acne scars and other depressed scars. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2011;25(1):92–9. doi:10.1111/j.1468-3083.2010.03711.x.
  22. Fabbrocini G, Annunziata MC, D’Arco V, De Vita V, Lodi G, Mauriello MC, et al. Acne scars: pathogenesis, classification and treatment. Dermatol Res Pract. 2010;2010:893080. doi:10.1155/2010/893080.
  23. Connolly D, Vu HL, Mariwalla K, Saedi N. Acne scarring – pathogenesis, evaluation, and treatment options. J Clin Aesthet Dermatol. 2017;10(9):12–23.
  24. Tretti Clementoni M, Azzopardi E. Specific attention areas in scar management: management of atrophic scars. In: Téot L, Mustoe TA, Middelkoop E, Gauglitz GG, editors. Textbook on scar management. Cham: Springer; 2020. p. 353–61. doi:10.1007/978-3-030-44766-3_41.
  25. Gupta A, Kaur M, Patra S, Khunger N, Gupta S. Evidence‑based surgical management of post‑acne scarring in skin of color. J Cutan Aesthet Surg. 2020;13(2):124–41. doi:10.4103/JCAS.JCAS_154_19.
  26. Attia E. Atrophic postacne scar treatment: narrative review. JMIR Dermatol. 2024;7:e49954. doi:10.2196/49954.
  27. Qoreishi SH, Gholizadeh N, Rahmatpour Rokni G, Babaei M. Advancements in acne scar treatment: exploring novel therapies. J Cosmet Dermatol. 2025;24:e70183. doi:10.1111/jocd.70183.
  28. Zhang M, Liu C, Zhang S, Chu R, Ren X. Advances in the treatment of acne scars. Front Med (Lausanne). 2025;12:1643035. doi:10.3389/fmed.2025.1643035.
  29. Chilicka K, Rusztowicz M, Szyguła R, Nowicka D. Methods for the improvement of acne scars used in dermatology and cosmetology: a review. J Clin Med. 2022;11(10):2744. doi:10.3390/jcm11102744.
  30. Tao A, Shu Y, Ding H, Tao G. Injectable fillers for atrophic acne scars: a systematic review of mechanisms, evidence, and clinical algorithms. Clin Cosmet Investig Dermatol. 2026;19:602580. doi:10.2147/CCID.S602580.
  31. Stratman S, He H. The use of chemical reconstruction of skin scars (CROSS) method with trichloroacetic acid (TCA) for atrophic scars: a comprehensive review on application techniques, adjunct therapies, and complications. J Clin Aesthet Dermatol. 2026;19(6):52–67.
  32. Vempati A, Zhou C, Tam C, Khong J, Rubanowitz A, Tam K, et al. Subcision for atrophic acne scarring: a comprehensive review of surgical instruments and combinatorial treatments. Clin Cosmet Investig Dermatol. 2023;16:125–34. doi:10.2147/CCID.S397888.
  33. Arsiwala SZ. Subcision with CROSS TCA peels for moderate to severe acne scars [commentary]; Kaur J, Kalsy J. Subcision plus 50% TCA CROSS [letter]. Indian Dermatol Online J. 2014;5(1):97–8. doi:10.4103/2229-5178.126053.

Ghi chú: Các nghiên cứu được nhắc tới bằng tên tác giả và năm nhưng không có số thứ tự không nằm trong bộ tài liệu được cung cấp; chúng được tiếp cận gián tiếp qua các tổng quan hoặc phân tích gộp được đánh số ở trên và luôn được ghi kèm nguồn trích dẫn trung gian.